(Chinhphu.vn)
- Ông Lê Văn Thất (lethat1986@...) đề nghị hướng dẫn giải quyết chế độ
trợ cấp thôi việc cho người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn
(TNHH) một thành viên Nhà nước.
Ông
Thất công tác tại Công ty TNHH một thành viên Nhà nước, thành lập tháng
10/2011, chính thức đi vào hoạt động được 4 tháng, trước đây là Ban
quản lý Dự án thuộc một sở trong tỉnh.
Hiện
nay, Công ty có trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) theo đúng
quy định, thời gian công tác của người lao động là 26 năm (chưa hưởng
trợ cấp). Ông Thất muốn được biết Công ty giải quyết chế độ trợ cấp thôi
việc cho người lao động này theo quy định tại Thông tư
21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hay quy định tại Điều 3 Thông tư
10/2012/TT-BLĐTBXH ngày 26/4/2012?
Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời ông Thất như sau:
Theo
ông Lê Văn Thất trình bày, công ty ông đang làm việc là Công ty TNHH
một thành viên Nhà nước thành lập tháng 10/2011, chính thức đi vào hoạt
động được 4 tháng, trước đây là Ban quản lý Dự án thuộc một sở trong
tỉnh. Như vậy Công ty này được kế thừa tài sản, cơ sở vật chất, đội ngũ
viên chức, người lao động và kế thừa nghĩa vụ của Ban Quản lý dự án.
Cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc
Cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt HĐLĐ được quy định tại Điều 2, Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH như sau:
Công thức tính trợ cấp thôi việc ở từng doanh nghiệp:
| Tiền trợ cấp thôi việc | = | Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc | X | Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc | X | 1/2 |
Trong đó:
-
Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính
theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP
ngày 12/12/2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại
doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người
lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên
nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc
dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng
làm tròn thành ½ năm; Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1
năm.
-
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công
theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt
HĐLĐ, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực,
phụ cấp chức vụ (nếu có).
-
Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển
quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà
người lao động chấm dứt HĐLĐ, thì người sử dụng lao động kế tiếp có
trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời
gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả
trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp
thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ được tính bình quân của 6
tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ cuối cùng.
Đối
với công ty Nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi
hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối
với các trường hợp này.
Trợ cấp thôi việc đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp
Ngày 20/8/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2010/NĐ-CP
quy định chính sách đối với người lao động dôi dư trong công ty TNHH
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc do tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu được chuyển đổi từ công ty Nhà
nước, công ty thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
theo quy định về chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên nhưng chưa
giải quyết chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002, Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10/8/2004, Nghị quyết số 07/2007/NQ-CP ngày 6/2/2007, Nghị định số 110/2007/NĐ-CP
ngày 26/6/2007 của Chính phủ, nay tiếp tục thực hiện sắp xếp lại theo
phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm: Cổ phần hóa,
giao, bán; Chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; Chuyển
thành đơn vị sự nghiệp; Giải thể, phá sản.
Theo đó, tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định này quy định:
-
Người lao động dôi dư đang thực hiện HĐLĐ không xác định thời hạn không
đủ điều kiện nghỉ việc hưởng lương hưu thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ và
được hưởng chế độ như sau:
Trợ
cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12
tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc
(có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực Nhà nước
(công ty 100% vốn Nhà nước; cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự
nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian người
lao động đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm và thời gian đóng bảo
hiểm thất nghiệp theo quy định nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền
lương và phụ cấp lương (nếu có);
Được
hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm
(đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm
việc trong khu vực Nhà nước;
Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm.
-
Người lao động dôi dư đang thực hiện HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12
tháng đến 36 tháng thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ và được hưởng các chế độ
sau:
Trợ
cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm thực tế
làm việc trong lĩnh vực nhà nước, không kể thời gian người lao động đã
nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm và thời gian đóng bảo hiểm thất
nghiệp theo quy định.
Trợ
cấp 70% tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) ghi trong HĐLĐ cho số
tháng còn lại chưa thực hiện hết HĐLĐ đã giao kết, nhưng tối đa cũng
không quá 12 tháng; trường hợp mức trợ cấp này thấp hơn mức tiền lương
tối thiểu chung tại thời điểm nghỉ việc thì được tính bằng mức tiền
lương tối thiểu chung.
Trường
hợp ông Lê Văn Thất phản ánh, Công ty TNHH một thành viên Nhà nước nơi
ông làm việc đã được thành lập trên cơ sở kế thừa quyền, nghĩa vụ của
Ban Quản lý Dự án và mới đi vào hoạt động chính thức, không phải là
trường hợp tiếp tục thực hiện sắp xếp lại theo phương án: cổ phần hóa,
giao, bán; hoặc chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; hoặc
chuyển thành đơn vị sự nghiệp; hoặc giải thể, phá sản. Do đó khi người
lao động thôi việc ở Công ty trong giai đoạn này, không thuộc đối tượng
áp dụng quy định tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định 91/2010/NĐ-CP
và hướng dẫn trả trợ cấp cho người lao động dôi dư tại Điều 3 Thông tư
10/2012/TT-BLĐTBXH
Trường
hợp này tính và chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 2
Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số
21/2003/TT-BLĐTBXH.
Luật sư Trần Văn Toàn
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội
Topiclaw is the registed brand of Panamax JSC