Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền thương
nghiệp nước nhà. Trên cơ sở đó, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành một số điều của luật này được ban hành. Sau ba năm thực hiện, ngày
01/10/2010 Chính phủ ban hành Nghị định 102/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị
định 139/2007/NĐ-CP. Được ban hành sau hơn bốn năm thực thi Luật Doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ-CP mang đến niềm hi vọng sẽ có những hướng
dẫn tích cực trong việc thi hành Luật Doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực
tế, vấn đề tài chính của công ty - mà chủ yếu là vốn của công ty (bao
hàm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) - được hướng dẫn
bởi Nghị định cần phải được xem xét lại trên cả phương diện lý luận và
thực tiễn.
1. Bản chất của vốn góp
Góp
vốn là việc thành viên công ty chuyển tài sản vào công ty để trở thành
chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu công ty. Trên thực tế, việc góp vốn vào
các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ tạo nên quy chế pháp lý khác
nhau đối với người góp vốn. Với vai trò là đạo luật ghi nhận các mô hình
kinh doanh, việc tạo lập nên sự phong phú của các mô hình là một điều
cần thiết cho các lựa chọn khởi nghiệp. Trong một chừng mực nào đó, Luật
Doanh nghiệp 2005 đã thành công trong việc đa dạng hoá các lựa chọn
này. Ước mơ khởi nghiệp của người Việt được trân trọng khi nhà làm luật
Việt Nam đã ghi nhận hầu hết những mô hình doanh nghiệp phổ biến của thế
giới. Một trong những loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất
bởi các nhà kinh doanh là mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và
công ty cổ phần (CTCP). Câu hỏi đặt ra là hai loại hình này có ưu điểm
gì mà được sự ưu ái trên?
1.1.Vốn điều lệ của công ty TNHH
Nếu
nhìn nhận từ góc độ của truyền thống luật Châu Âu lục địa, người ta
thừa nhận rằng công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp kết hợp sự “ưu
việt” của mô hình công ty đối nhân và công ty đối vốn. Kết quả của sự
kết hợp này là, công ty TNHH mang trong mình bản chất của một công ty
“đóng” như việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên cho người
không phải là thành viên của công ty bị hạn chế, việc phát hành cổ phần
bị cấm đoán1... Tóm lại, có thể nói mô hình công ty TNHH là
mô hình dành cho việc kinh doanh có qui mô vừa và nhỏ. Xuất phát từ đó,
vốn điều lệ của công ty TNHH được đặc trưng bởi:
Thứ nhất:
vốn điều lệ được xác định bởi con số mà các thành viên công ty góp hoặc
cam kết góp vốn. Trong so sánh với CTCP, vốn điều lệ của công ty TNHH
là con số “thực”. Nói cách khác với hành vi góp vốn, số vốn do các thành
viên góp trở thành vốn của công ty và được ghi nhận vào điều lệ của
công ty. Sự khác biệt giữa việc thực góp và cam kết góp chỉ là yếu tố
thời gian. Việc hoàn thành hành vi góp vốn theo cam kết góp vốn được
thực hiện tại một thời điểm trong tương lai. Theo điều 41 Luật Doanh
nghiệp, nghĩa vụ của thành viên là phải thực hiện đúng cam kết góp vốn.
Thứ hai:
theo phân tích trên, mặc dù công ty TNHH có vốn là một con số xác định
và người ta có thể xác định được dễ dàng phần vốn góp của mỗi thành viên
công ty là bao nhiêu nhưng luật cũng cho phép tình trạng “nợ” vốn trong
công ty TNHH.
Ví
dụ: Công ty TNHH A có ba thành viên X, Y, Z, có vốn điều lệ là một tỷ
đồng. Như vậy, mặc dù có thể thành viên công ty chưa tiến hành việc góp
vốn vì chưa đến hạn phải góp theo cam kết nhưng con số một tỷ đồng trên
vẫn được xác định là vốn điều lệ của công ty và nó được coi là bảo đảm
cho việc trả nợ của công ty với các bên thứ ba. Nếu như có bất kỳ một
thiệt hại nào đối với bên thứ ba thì số vốn một tỷ đồng trên sẽ là tài
sản trả nợ, đồng thời cũng sẽ rất dễ dàng xác định phần trách nhiệm mà
mỗi thành viên công ty phải chịu theo cam kết góp vốn2.
Tóm
lại, trong công ty TNHH, người ta phải xác định một cách rõ ràng số vốn
mà công ty có để làm cơ sở xác định trách nhiệm của công ty với bên thứ
ba. Nhưng cũng xuất phát từ bản chất là một công ty “đóng” nên việc lựa
chọn thời điểm hoàn thành việc góp vốn thuộc quyền định đoạt của các
thành viên.
1.2. Vốn điều lệ của CTCP
Về
mặt lý luận, người ta thừa nhận CTCP là loại hình công ty “mở”. Vốn
điều lệ của công ty cũng phải được xác định từ đầu và phải được ghi vào
trong điều lệ của công ty. Nhưng có sự khác biệt giữa vốn điều lệ của
CTCP và vốn điều lệ của công ty TNHH. Nếu như vốn điều lệ của công ty
TNHH là một con số “thực” thì vốn điều lệ trong CTCP khi mới thành lập
công ty có phần nào đó mang tính “ảo”. Cụ thể: Điều 84 Luật Doanh nghiệp
qui định: “Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20%
tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số
cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Điều đó có nghĩa là, nếu
như vốn điều lệ của công ty là một tỷ đồng thì theo yêu cầu của Điều 84
Luật Doanh nghiệp, các cổ đông sáng lập chỉ cần góp hoặc cam kết góp 200
triệu đồng (giả định rằng công ty chỉ phát hành cổ phần phổ thông) mà
không phải là toàn bộ số vốn điều lệ. Như vậy, ta thấy có một “khoảng
trống” giữa số vốn điều lệ của công ty và phần vốn mà các cổ đông sáng
lập đăng ký mua. Phần vốn còn thiếu không phải là kết quả của một toan
tính gian dối trong quá trình vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh mà
nó trở thành một quyền đặc trưng của CTCP trong việc huy động vốn: quyền bán cổ phần có quyền chào bán.
Nói cách khác, các cổ đông sáng lập “kê khai” vốn của công ty là một tỷ
đồng và đã được cơ quan đăng ký kinh doanh ghi nhận điều này vào giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng các cổ đông không thực hiện hết thì
phần vốn còn thiếu được nhìn nhận là một phần không tách rời của số vốn
kê khai ở trên. Tuy vậy, việc huy động phần vốn còn “thiếu” kia không
phải là không có thời hạn. Giới hạn luật định trong trường hợp này là ba
năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau
ba năm mà công ty không huy động đủ số vốn đã đăng ký thì công ty phải
giảm vốn điều lệ tương ứng với phần vốn mà công ty thực tế huy động
được.
Sự
khác biệt về vốn điều lệ giữa CTCP và công ty TNHH xuất phát từ sự khác
biệt giữa hai mô hình doanh nghiệp. Về mặt lý luận, chúng ta thừa nhận
CTCP là một công cụ huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Điều đó
được thể hiện ở chỗ mệnh giá cổ phần thường là rất thấp (đối với các
công ty niêm yết là 10 ngàn đồng). Từ đó, người ta có thể dễ dàng đầu tư
vào CTCP thông qua việc mua một hoặc một số cổ phần tuỳ theo khả năng
tài chính của họ. Đồng thời, nguyên tắc tách bạch giữa sở hữu và quản lý
trong công ty tạo nên sự tính chuyên nghiệp cũng như hiệu quả kinh tế
cao trong việc sử dụng vốn của công ty. Điều đó thể hiện ở chỗ, cổ đông
là người thành lập công ty nhưng việc quản lý thì được giao cho giám đốc
và hội đồng quản trị, những người chuyên nghiệp trong quản trị hoặc có
kiến thức sâu về lĩnh vực hoạt động của công ty3. Thông qua
quá trình điều hành doanh nghiệp, những nhà quản lý - mà cụ thể là hội
đồng quản trị - sẽ là người biết rõ về nhu cầu vốn của công ty cũng như
khả năng thu hút vốn đầu tư của công ty sẽ quyết định việc phát hành cổ
phần có quyền chào bán để đáp ứng cho nhu cầu về vốn đó.
Qui
định “mở” như trên là phù hợp với bản chất CTCP. Về nguyên tắc, cổ đông
sáng lập có quyền quyết định số vốn điều lệ của công ty. Nhưng mặt
khác, họ chỉ góp vốn vào công ty dựa trên khả năng tài chính của các cổ
đông hiện hữu và nhu cầu về vốn của công ty. Do đó, việc thừa nhận cổ
phần có quyền chào bán tạo nên sự thuận lợi cho CTCP khi thực hiện việc
huy động vốn từ công chúng mà không cần phải thông qua các thủ tục hành
chính với cơ quan đăng ký kinh doanh. Thêm nữa, cơ hội huy động vốn cổ
phần từ công chúng của một công ty mới thành lập dường như là một yêu
cầu không khả thi. Thời gian ba năm cho cổ phần có quyền chào bán cũng
là khoảng thời gian cần cho công ty trong việc gây dựng niềm tin cho các
nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư từ họ.
2. Hướng dẫn của Nghị định 102/2007/NĐ-CP
Nhận
xét chung là Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã can thiệp rất sâu vào hoạt
động của doanh nghiệp. Trong chủ đề về vốn điều lệ đang được khảo cứu ở
đây, có nhiều hướng dẫn khá hợp lý. Nhưng những vấn đề chưa được giải
quyết trong Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì trong Nghị định 102/2010/NĐ-CP
cũng vẫn còn bỏ ngỏ.
2.1. Vốn điều lệ của công ty TNHH
Không có nhiều thay đổi về vốn của công ty TNHH theo hướng dẫn của 102/2010/NĐ-CP, ngoại trừ hai điểm sau:
Theo
qui định của Luật Doanh nghiệp, nghĩa vụ góp vốn của thành viên công ty
được xác định theo cam kết góp vốn. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp không hề
có một giới hạn về mặt thời gian nào cho việc hoàn thành nghĩa vụ góp
vốn. Nói cách khác, thời hạn để thành viên góp vốn vào công ty là không
hạn chế mà thời hạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào thỏa thuận góp vốn
giữa các thành viên công ty. Cụ thể, nghĩa vụ của thành viên là phải
“Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp
vào công ty”4. Nhưng ngay cả trong trường hợp thành viên
không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn thì khoản vốn chưa góp được xem là
khoản nợ của thành viên đối với công ty5.
Tuy
vậy, theo qui định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP, thời hạn để thành viên
hoàn thành nghĩa vụ góp vốn là 36 tháng kể từ ngày công ty được cấp
giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp6. Đây là hướng dẫn hợp
lý. Kết quả là với hướng dẫn này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã tạo cơ sở
cho việc chấm dứt tình trạng nợ vốn không thời hạn của thành viên công
ty TNHH.
Nhưng
có một tồn tại chưa được giải quyết trong Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì
đến 102/2010/NĐ-CP vẫn còn đang bỏ ngỏ. Đó là việc giảm vốn điều lệ của
công ty TNHH có được đặt ra hay không khi thành viên không hoàn thành
nghĩa vụ góp vốn theo cam kết?
Việc
một thành viên không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn được nhìn nhận ở hai
hành vi: Thành viên không hề tiến hành việc góp vốn hoặc có thể chỉ góp
một phần theo cam kết góp vốn. Theo đó, giải pháp của Luật Doanh nghiệp,
theo khoản 3 Điều 39 là: “Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành
viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo
một trong các cách: i) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn
chưa góp; ii) Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty; iii) Các
thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ
trong vốn điều lệ công ty”
Nhưng
trong trường hợp không xử lý theo cả ba cách trên, nói cách khác không
huy động đủ số vốn điều lệ thì luật bỏ ngỏ. Nếu căn cứ theo khoản 6 Điều
4 của Luật Doanh nghiệp: “vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ
đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào
Điều lệ công ty” thì chưa đủ cơ sở pháp lý để khẳng định nghĩa vụ phải
đăng ký giảm vốn điều lệ của công ty TNHH trong trường hợp này, mặc dù
về mặt lý luận chúng ta thừa nhận khả năng này. Ngay cả Điều 60 Luật
Doanh nghiệp qui định các trường hợp giảm vốn điều lệ của công ty cũng
không hề thừa nhận trường hợp giảm vốn điều lệ trong trường hợp không
huy động đủ số vốn điều lệ theo cam kết góp vốn của các thành viên.
2.2. Vốn điều lệ của CTCP
Như
phân tích ở trên, Luật Doanh nghiệp thừa nhận tình trạng vốn “ảo” của
CTCP trong thời hạn ba năm đầu kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nhưng đến hướng dẫn của Nghị định
102/2010/NĐ-CP, theo khoản 4 Điều 6, đã có sự khác biệt khá lớn với
những gì mà chúng ta vừa đề cập ở trên: “Vốn điều lệ của CTCP là tổng
giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ phần đã phát hành là số
cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng
ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của CTCP là tổng giá
trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ
thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần
này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”. Theo đó, sẽ không còn tình trạng
nợ 80% vốn điều lệ theo qui định của Luật Doanh nghiệp. Hướng dẫn này
tạo nên hai mâu thuẫn về mặt lý luận:
Một là hướng dẫn này trái với qui định của Điều 84 Luật Doanh nghiệp, thừa nhận tình trạng nợ 80% vốn điều lệ của loại hình CTCP7.
Hai
là với hướng dẫn này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã xoá nhoà ranh giới
phân định sự khác biệt đặc trưng giữa công ty TNHH và CTCP. Bởi vì trong
công ty TNHH, vốn điều lệ của công ty hình thành trên cơ sở số vốn
thành viên công ty góp hoặc cam kết góp. Nói cách khác, chủ sở hữu phần
vốn này đã được xác định ngay từ khi cam kết góp. Trong khi đó, vốn điều
lệ của CTCP do các cổ đông sáng lập tự thỏa thuận và ghi vào điều lệ
của công ty. Nhưng các cổ đông sáng lập có thể mua hoặc không mua hết
vốn điều lệ. Nói cách khác, vốn điều lệ của CTCP, trong trường hợp cổ
đông sáng lập chỉ đăng ký con số tối thiểu là 20% cổ phần phổ thông theo
qui định của Luật Doanh nghiệp, bao hàm cả phần sở hữu được xác định cụ
thể cho từng cổ đông sáng lập và một phần (lớn) chưa được xác định.
Chúng ta gọi phần chưa xác định này là cổ phần có quyền chào bán. Đến
lúc này, bất cứ người nào, không rơi vào các trường hợp bị cấm góp vốn
vào doanh nghiệp thì cũng có quyền được mua số cổ phần có quyền chào bán
này một khi công ty quyết định bán cổ phần để huy động vốn. Đó cũng là
đặc trưng của CTCP mà chúng ta hay gọi là “công ty mở”.
Một vài kết luận
Trong
suốt một thời gian dài thực thi Luật Doanh nghiệp, sự ra đời của Nghị
định 102/2010/NĐ-CP đã mang theo rất nhiều sự trông đợi. Bên cạnh những
điểm tiến bộ, Nghị định 102/2010/NĐ-CP vẫn còn những tồn tại như phân
tích trên. Chúng tôi có một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất,
cần ghi nhận trường hợp giảm vốn điều lệ của công ty TNHH trong trường
hợp công ty không huy động đủ số vốn theo cam kết góp vốn của thành viên
công ty. Quy định theo hướng như vậy là hoàn toàn hợp lý. Vì vốn điều
lệ về bản chất là số vốn mà thành viên công ty góp vào công ty. Cho nên
dù là công ty TNHH hay CTCP thì cũng vậy. Không có lý do gì chúng ta
thừa nhận việc giảm vốn điều lệ của CTCP trong trường hợp sau khi hết
thời hạn ba năm mà công ty không huy động đủ vốn mà không thừa nhận việc
giảm vốn đối với công ty TNHH.
Thứ hai,
nhìn từ Điều 84 của Luật Doanh nghiệp, cổ đông sáng lập CTCP không cần
phải mua hoặc đăng ký mua hết 100% vốn điều lệ công ty. Chính điều này
tạo nên sự khác biệt độc đáo giữa hai loại hình công ty TNHH và cổ phần.
Nếu như chúng ta thừa nhận sự đa dạng trong quy chế pháp lý giữa các mô
hình kinh doanh, thì không có lý gì lại xoá nhoà đi ranh giới giữa các
mô hình kinh doanh được luật thiết lập, bởi một nghị định hướng dẫn.
Theo đó, nên bỏ đi qui định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP
mà nên thừa nhận việc nợ 80% vốn như qui định của Luật Doanh nghiệp.
(2)
Điều 38, khoản 1, điểm a Luật Doanh nghiệp qui định:“Thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp”.
(3) Điều 55, Điều 110 Luật Doanh nghiệp.
(4) Khoản 1 Điều 42 Luật Doanh nghiệp.
(5) Khoản 2 Điều 39 Luật Doanh nghiệp.
(6) Khoản 3 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
(7)Khoản
4 Điều 84 Luật Doanh nghiệp qui định: “Trường hợp các cổ đông sáng lập
không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn
lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công
ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.
Topiclaw is the registed brand of Panamax JSC